Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ những điểm cần lưu ý

Tiến sĩ Glenn Doman người Mỹ, nổi tiếng về trị liệu cho trẻ khuyết tật não, trong cuốn sách “Càng là bố mẹ, càng là những bác sỹ tuyệt vời” nói một điều rất quan trọng, rằng, “về sự phát triển não của trẻ em, kỹ năng quyết định cấu tạo”. Tại trung tâm nghiên cứu trị liệu trẻ khuyết tật não của tiến sĩ Doman, trừ những trẻ em mù, còn lại tất cả các trẻ nhỏ từ sơ sinh trong trung tâm đều được nhận chương trình chăm sóc để đến 1 tuổi rưỡi là biết đọc. Cứ như vậy, hàng trăm trẻ nhỏ khuyết tật não độ tuổi 2,3,4 bắt đầu đọc chữ, lớn hơn chút đọc vài cuốn sách, không những đọc mà còn có thể hiểu.
Trong số trẻ 3 tuổi cũng có bé đọc được vài thứ tiếng, và hiểu được nội dung của cái mình đọc cũng có một vài bé. Bằng việc làm kích thích chức năng của não phát triển như vậy, có hiện tượng cấu tạo của não cũng phát triển như ví dụ kể trên. Vì khi đó, hộp sọ lớn gấp 3,4 lần bình thường. Tức là, dạy chữ cho trẻ sẽ hình thành đường phản hồi thị giác tốt, trong não có các khởi đầu trưởng thành như vậy, sẽ làm phát triển cấu tạo của toàn bộ đầu não của trẻ, theo hướng tốt hơn.
Việc dạy chữ có thể nói là làm thay đổi chức năng, và dẫn đến cấu tạo não thay đổi theo. Hiện tượng này, trẻ càng nhỏ càng dễ. Khi trẻ nhỏ nhớ chữ, sẽ có được tốt chất cao phi thường. Nhớ chữ làm thay đổi thực sự chức năng và cấu tạo của não.
Theo tiến sĩ Haimond Belas người Brazil, dạy một trẻ gái bị chứng Da-un 3 thứ tiếng là Bồ đào nha, tiếng Anh, tiếng Đức. Đến khi bé 3 tuổi cuốn sách nào của 3 nước đó bé cũng đọc được. Tiến sĩ lại tiếp tục dạy cách đọc 3 thứ tiếng đó cho hàng chục trẻ em dưới 3 tuổi bị chứng Da-un. Chưa tới 4 tuổi, hầu hết các bé đều đã đọc được.
Ở Nhật, viện nghiên cứu ngôn ngữ quốc gia công bố kết quả điều tra chữ ở trẻ nhỏ, cho thấy “trẻ đọc được hơn 22 chữ cái có nhiều điểm ưu tú hơn những trẻ chưa biết chữ”. Đây có thể nói là một chuyện tự nhiên. Chỉ có ăn uống và vận động, thì cũng chỉ hoạt động như não của động vật thông thường.
Đây gọi là hệ tín hiệu thứ nhất. Người cũng là một loài động vật, đương nhiên được chuẩn bị sẵn hệ tín hiệu này. Nhưng ở người còn có 1 hệ tín hiệu thứ hai nữa, mà các loài động vật khác không có. Đó là hệ sử dụng ký tự, chữ số, chữ viết để suy nghĩ, phán đoán.
Để có thể đọc được chữ, hệ tín hiệu thứ hai phải hoạt động tích cực. Khi mới sinh ra, trẻ chỉ là một động vật nhỏ, nhưng khi hệ tín hiệu thứ hai này bắt đầu hoạt động, bỗng chốc trẻ trở thành con của loài người.
Điều chúng tôi muốn lưu ý, là để hệ tín hiệu thứ hai này hoạt động tốt, trẻ càng gần với thời điểm mới sinh ra càng có hiệu quả cao. Để tới khi trẻ 6 tuổi, khi nếp nhăn trên vỏ não đã hình thành tới 60-80% thì hiệu quả của hệ tín hiệu thứ hai bị giảm sút đi nhiều.
Thầy Ishii nổi tiếng về môn giáo dục dạy chữ Hán cho trẻ từ sớm nói: “thời kỳ nhớ chữ Hán dễ dàng nhất là 3,4 tuổi. Qua độ tuổi này chỉ có giảm dần. 6,7 tuổi bắt đầu học chữ, kết quả tỉ lệ nghịch với tuổi, trẻ khó nhớ hơn. Số chữ cho trẻ lớp lớn tiểu học là 1000 chữ Hán, nhưng vào tiểu học mới bắt đầu học thì nhớ 500 chữ đã vất vả rồi. Nếu như bắt đầu từ khi 3 tuổi, thì 1000 chữ đó học trong 3 năm là nhớ hết. Là bởi vì, càng là 3 tuổi càng là thời kỳ dễ học chữ, học nói.
Điều quan trọng là, nhớ nhiều chữ như vậy, khiến chất lượng của não cũng thay đổi theo. Với trẻ yếu tinh thần, mà dạy chữ Hán, thời điểm trẻ nhớ được khoảng 100 chữ, sắc tố mắt cũng thay đổi. Mắt trẻ trở nên lanh lợi hơn. Trẻ suy nhược tinh thần đến chừng nào đi nữa, với lòng nhiệt tình và nhẫn nãi của bố mẹ, vẫn có thể dạy chữ Hán cho trẻ. Vì chữ làm cấu tạo não thay đổi.”
2. Thực nghiệm của vợ chồng giáo sư Stainbarg
Vợ chồng giáo sư Stainbarg đại học Hawai, thực nghiệm dạy đọc chữ cho trẻ sơ sinh từ trước khi biết nói. “Trẻ bắt đầu học nói/ ngôn ngữ từ khi bé nói từng âm tiết. Dạy đọc phải bắt đầu từ khi bé vừa biết nói”.
Vợ chồng giáo sư thắc mắc, với suy nghĩ phổ biến rằng “phải chăng đọc gồm 2 việc, 1 là lý giải/ hiểu được ý nghĩa cái mà người ta viết, và 1 là đọc thành tiếng cái mà người ta viết”.
Từ thực tế rõ ràng là trẻ không biết nói thì vẫn hiểu ý nghĩa lời người khác nói với mình. Từ ngữ không cần phải đã biết nói, nếu nghe và hiểu ý nghĩa thì vẫn có thể dạy đọc được”. Vợ chồng giáo sư nghiên cứu tài liệu và nhân ra rằng, hầu như không có ví dụ thực tế về việc dạy chữ cho trẻ khi chưa biết nói.
Năm 1964, hai vợ chồng giáo sư bắt đầu thực nghiệm việc dạy đọc cho con mình, cậu con trai đầu lòng tên K, từ khi vừa lọt lòng. Khi đón con từ bệnh viện về nhà, để con ngủ trong chiếc giường con, vợ chồng giáo sư đã dán những bức tranh cừu con và ngựa con quanh giường, và nghĩ xem đặt ở vị trí nào thì trông sinh động đáng yêu.
Bé vừa ở trong bụng mẹ tối om om ra, cái tranh động vật đầu tiên nhìn thấy mà có hình thù động vật khác lạ, bé sẽ không thể nghĩ là xinh xắn đáng yêu được- vợ chồng giáo sư nghĩ thế. Hàng ngày, người lớn trong nhà cho bé xem bức tranh đó và nói dạy cho bé là “Chú cừu xinh xắn quá nhỉ” , như vậy phải chăng sẽ làm cho bé nghĩ rằng cái đó là xinh xắn đáng yêu.
Khi bé được 6 tháng tuổi, vợ chồng giáo sư đã viết chữ cái vào mảnh giấy nhỏ hẹp hình chữ nhật (rộng 7,5cm dài 60cm) bằng bút màu đỏ nét đậm, rồi dán 2 đầu giường của bé. Rồi mỗi khi thay tã lót cho bé, hoặc là mỗi khi bế bé, bố mẹ lấy ngón tay trỏ từng chữ cái và đọc cho bé nghe. Mỗi ngày bỏ thời gian ra khoảng 4,5 lần, mỗi ngày vài phút làm việc này. Trong sinh hoạt hàng ngày, mỗi khi nhìn thấy chữ, thì đọc cho bé “Đây là chữ K đấy” “Đây là chữ S nhé”.
Được 2 tháng tuổi, thì chuyển từ giai đoạn đọc từng chữ cái đơn, sang giai đoạn hai, là cho trẻ nhìn phân biệt chữ. “Chữ K đâu nhỉ?” “Ở đây có chữ K đấy!”, giáo sư hỏi bé rồi ông lại tự trả lời.
Khi bé được 10 tháng, hỏi “bố con đâu?” thì bé nhìn ngay ra chỗ giáo sư Stain Barg, cho nên khi đó bé đã hiểu và phán đoán được cách nói “ai/ cái gì ở đâu”. Con của giáo sư đã thể hiện rất thích chữ.
Khi lấy thìa gõ gõ chỉ vào chữ cái S in trên hộp đựng thực phẩm và nói “ở đây có chữ L đấy!” thì bé rất vui mừng. Nhìn thấy chữ cái là bé hưng phấn, đạp chân tanh tách, hươ hươ tay lên.
Vợ chồng giáo sư, trong khi còn một số chữ cái không biết con đã biết hay chưa, nhưng vẫn tiến tiếp đến giai đoạn thứ ba (là đọc đơn từ, cụm từ, câu ngắn). Vợ chồng giáo sư viết các đơn từ như “Em bé”, “bé trai”, “bé gái”, “xe ô tô”… vào giấy rồi dán lên tường, đọc cho bé nghe đi nghe lại nhiều lần.
Mỗi khi đọc, thế nào cũng phải lấy ngón tay chỉ vào chữ, vừa chỉ vừa đọc. Đây là điều quan trọng. Sau đó, viết các đơn từ đó vào tấm card, xếp hai tấm card ghi chữ “bé trai” và “bé gái” cạnh nhau, hỏi bé “Bé trai đâu?” bé không do dự nhặt tấm card ghi chữ “bé trai” lên.
Khi bé khóc vì máy bay bay ầm ầm trên nóc nhà, mẹ bế ngay bé lên, ra chỗ nhìn thấy máy bay và nói “Kia là máy bay ! Nó kêu to thế nhưng không sợ đâu”, rồi khi bế bé vào trong nhà, viết ngay vào card chữ “máy bay” và đọc cho bé nghe.
Với những trải nghiệm như vậy, bé nhớ ngay từ mới. Bé K chậm biết nói, khi sinh nhật 2 tuổi vẫn chưa nói sõi tên của mình. Thế nhưng chữ thì đã đọc được 48 đơn từ (đọc theo cách, hỏi thì bé chỉ tay vào câu trả lời đúng).
Lúc hơn 2 tuổi, số từ mới và câu bé hiểu tăng vọt lên, ví dụ như khi được nhìn thấy xe đạp và được dạy từ “xe đạp” thì bé tỏ ý muốn mẹ làm cho tấm card (tự đem card trắng và bút viết ra cho mẹ).
Khi được 2 tuổi rưỡi, bé đã đọc được tất cả 181 card. Bước vào giai đoạn 4, (giai đoạn đọc sách). Khi mua một quyển sách mới, mẹ chỉ tay vào từng dòng và đọc cho bé nghe. Bé cũng bắt chước thế, đọc lại.
Khi bé đọc được hơn 1 chút, mẹ đọc từng dòng, hoặc đọc từng đoạn ngắn một, rồi bé đọc lại phần mẹ vừa đọc, hai mẹ con luân phiên nhau đọc như vậy.
Bắt đầu từ 2 tuổi 8 tháng, bắt đầu cho bé đi thư viện. Mỗi lần mượn tới 2 chục quyển, đọc cho con nghe hết số sách mượn đó cho tới kỳ hạn phải trả sách. Có một se-ri sách tên là Biginazu-book-series dành cho trẻ em Mỹ. Khi bé K 3 tuổi 7 tháng đã đọc được 3/4 series này một cách chính xác.
Từ 4 tuổi giáo sư đã dạy cho con đọc nhẩm. Được 4 tháng thì bé tự đọc nhẩm được rồi. Khi bé 4 tuổi 11 tháng, ở trung tâm đọc sách của đại học Irinoi, bé được đánh giá là có khả năng đọc hiểu ngang bằng với học sinh lớp 3,4 tiểu học. Khi bé 7 tuổi 11 tháng, ở trung tâm đọc sách của đại học Hawai, bé được đánh giá có khả năng đọc bằng với học sinh lớp 6 tiểu học, và khi 10 tuổi 10 tháng (học sinh lớp 5 tiểu học), ở đại học Califonia, bé được đánh giá có khả năng đọc hiểu bằng với học sinh lớp 12. Quyển tiểu thuyết chừng 200 trang, bé đọc trong vòng 2 tiếng, tốc độ đọc nhanh hơn vợ chồng giáo sư nhiều lần. Vợ chồng giáo sư Stain Barg xác định được hiệu quả từ việc dạy chữ sớm cho con trẻ, từ chính thực nghiệm với con trai của mình. Sau đó, ông vẫn tiếp tục hướng dẫn cho các bà mẹ dạy chữ từ sơ sinh cho các con.
Có nhiều ví dụ cụ thể được công bố, như trẻ nhỏ 1 tuổi rưỡi biết đọc 80 chữ; bắt đầu dạy chữ cho trẻ bị chẩn đoán down khi 3 tuổi, trong 2 năm trẻ đó cũng đọc được 50 đơn từ.
Giáo sư Stain Barg phát huy lý luận và thực tiễn phương pháp dạy ngôn ngữ mà ông đã thực hiện với chính con trai mình đạt kết quả tuyệt vời. Khi làm giáo sư khách mời của đại học Hiroshima, ông hướng dẫn phương pháp dạy ngôn ngữ này cho 4 gia đình với 5 trẻ nhỏ đang sống ở Hiroshima. Kết quả là, bé gái A, bắt đầu thực nghiệm phương pháp dạy ngôn ngữ khi 1 tuổi rưỡi. Trong có 2 tuần, bé đã nhận biết được 5 chữ Hán (*chó, tay, sách, búp bê, voi) và 5 chữ âm Nhật (nho, ghế, quả hồng, mèo, gấu panda). Riêng từ “quả hồng” thì phải cho bé nhìn hơn 5 lần, còn lại thì chỉ nhìn 1,2 lần là nhớ. Bảng chữ cái Aiueo của Nhật, chỉ 1 tháng bé đã nhớ hết. Sang tuần thứ 14, đã đọc được 39 câu đơn giản, kiểu như “Bé A chạy”, “Bố ngắm sao”, “con gấu đứng”. Bé trai B thì bắt đầu được dạy chữ khi 1 tuổi 9 tháng. Vào tuần thứ 18 (lúc đó bé 2 tuổi 3 tháng) đã nhận biết được 143 danh từ chữ Hán, 33 câu văn.
Càng so với trẻ cùng tuổi, càng thấy các cháu bé đã ngấm vào mình những tố chất rất cao. Không phải dạy bằng hình thức bỏ thời gian công sức để nhồi nhét vào đầu các bé. Mà hầu hết là hình thức chơi bằng thẻ card, mỗi ngày chỉ 5 phút hoặc 10 phút. Chơi với chữ, mà thành quả đạt được như vậy. Giáo dục ngôn ngữ cho trẻ như vậy thực sự là việc thúc đẩy sự tiến bộ trí năng của trẻ nhỏ.
3. 9 điểm lưu ý khi giáo dục ngôn ngữ cho trẻ
Là các điểm do giáo sư Stain Barg nói trên đưa ra.
1- Trẻ 2,3 tuổi học nhanh hơn trẻ 6 tuổi. Trẻ càng nhỏ, càng có hứng thú với trò chơi học chữ. Trẻ càng lớn càng thấy học chữ là ngại. Nên để não của trẻ sớm hình thành đường phản hồi với chữ.
2- Nói và Biết, là hai việc hoàn toàn khác nhau. Để hiểu, thì chỉ cần nghe là hiểu. Càng lớn, lượng nghe và hiểu ngày càng tăng, song, hơn hẳn khả năng tự mình viết ra. Nếu ngược lại, chúng ta chỉ là những con vẹt. Vẹt thì chả hiểu gì cũng nói leo lẻo.
3- Đọc và Nói chuyện là hai việc khác nhau. Đọc là nhìn ký tự bằng mắt các ký tự bằng chữ, chữ số, và hiểu ý nghĩa. Đấy là bản chất của việc Đọc. Ví dụ, kể cả không nói được nhưng khả năng lý giải vẫn có khi là rất tuyệt.
4- Đọc khác với Viết. Cả đọc và viết đều là năng lực của thị
giác, nhưng để viết được thì cần phải cử động cơ tay. Trẻ em cần phải lớn tới 4,5 tuổi, các cơ ngón tay mới đạt được mức độ nhất định. Việc dạy viết không thể dạy sớm hơn thế. Nhưng khả năng nhìn/ xem thì có thể triển khai toàn bộ đầy đủ từ khi trẻ 1 tuổi. Tức là, Đọc thì dạy từ sơ sinh, từ khi vừa lọt lòng cũng dạy được.
5- Dạy Đọc không có nghĩa là dạy ký tự chữ. Với trẻ em, một từ đã biết hay chưa biết đều cần phải được trải nghiệm. Vì vậy, dạy cùng với trải nghiệm mới là quan trọng. Nếu như trẻ biết cái gọi là hapi- cái áo khoác mặc lễ hội mùa hè- thì phải dạy chữ hapi cho trẻ. Đối với người lớn chúng ta, rất khó học thuộc lòng một ngôn ngữ hoàn toàn không biết như tiếng Hebrew (tiếng Israel, Palestine), chúng ta thấy chán phèo. (Ý muốn nói, học 1 cái gì mà không biết nghĩa thì chán phèo, nên dạy trẻ cái mà chúng biết nghĩa, sẽ thấy thú vị hơn).
6-Nếu trẻ nghe và hiểu thì tiến lên Đọc ngay. Ứng dụng chu trình từ 1 đến 5 ở trên.
7-Cho trẻ ghép. Từ ngữ ghép với chữ. Đồ vật ghép với tranh; đồ vật ghép với chữ. Ghép như vậy là những cách quan trọng để dạy chữ.
8- Không làm rắc rối thêm bằng các trợ từ có ý nghĩa trừu tượng. Thay vì chú trọng ngữ pháp với chủ ngữ vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ mà hãy tăng cường dạy trẻ nhiều đơn từ, và những câu văn cả câu.
9- Vừa chơi game, mỗi lần 2,3 phút. Tổng cộng 10 phút mỗi ngày. Nên chia làm nhiều lần để trẻ khỏi thấy nhàm chán.
Kết luận ở đây, tôi muốn nói điều này. Gần đây, trên khắp Nhật bản, có thấy nhiều lớp học cho trẻ anh tài, nhưng chỉ là giáo trình suy luận, giáo trình trí năng, chơi trò chơi trí năng thôi, thì phương pháp giáo dục này không làm trẻ nhỏ trưởng thành, đây là phương pháp giáo dục bị nhầm lẫn là giáo dục anh tài.
Trụ cột phương pháp giáo dục trẻ nhỏ là việc giáo dục ngôn ngữ. Nếu không, chắc chắn trẻ không đạt được mức độ sâu sắc về tinh thần. Giả sử có tài liệu giáo trình trí năng, chỉ số IQ đạt tới 180 hay 200 thì không có nghĩa là trẻ đã có khả năng tư duy mang tính tinh thần sâu sắc.
Trí năng, chỉ có thể đạt được bằng cách đọc sách và tự ngấm vào mỗi con người trẻ nhỏ mà thôi.